Cụ Huỳnh Thúc Kháng hiệu Mính Viên, tự Giới Sanh, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ Huỳnh Văn Phương (hiệu Tấn Hữu), một nhà nho theo nghiệp đèn sách. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tình, người cùng quê, một phụ nữ mực thước, đảm đang.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng vốn nổi tiếng thông minh, học giỏi và sớm đạt giải cao trong các kỳ thi. Năm 1900, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương (đứng đầu kỳ thi Hương) và đến năm 1904 đỗ Tiến sĩ. Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam, cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà dấn thân vào các hoạt động yêu nước diễn ra sôi nổi những năm đầu thế kỷ XX. Năm 1905, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp đi tìm hiểu tình hình thực tế ở phía Nam, xem xét dân tình, sĩ khí, đề xướng tân học và tìm bạn cùng chí hướng. Năm 1906, trở về Quảng Nam khởi xướng, lãnh đạo phong trào Duy tân. Năm 1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp bắt, đày đi tù Côn Đảo suốt 13 năm (1908-1921). Sau khi được trả tự do, cụ Huỳnh Thúc Kháng lại tích cực hoạt động đòi quyền lợi cho dân, cho nước. Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kì. Trong ba năm hoạt động ở Viện, ông cương quyết tranh đấu trong nghị trường, rồi nhân việc chống lại Khâm sứ Pháp Jabouille, ông từ chức. Năm 1927, ông sáng lập ra nhà in và báo Tiếng Dân, suốt thời gian này Ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo tại Huế cho đến khi tờ báo Tiếng Dân bị đình bản (1943).

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng, đức độ của cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ tham gia nội các Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đầu năm 1946, cụ làm Chủ tịch hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cụ được giao chức vụ Quyền Chủ tịch nước (31/5/1946-20/10/1946). Với cương vị Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh đã tham gia giải quyết nhiều công việc, góp phần quan trọng điều hành bộ máy Nhà nước, chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề về đối nội và đối ngoại theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Khi cuộc kháng chiến toàn quc bùng n (tháng 12/1946), Ch tch H Chí Minh c c Hunh làm Đặc phái viên ca Chính ph đi kinh lý min Trung để gii thích đường li kháng chiến, kêu gi toàn dân ng h Chính ph, ng h cách mng. Đầu năm 1947, tiếp tc hành trình đi kinh lý min Trung, do tui cao, sc yếu và lâm bnh nng, c Hunh qua đời ti tnh Qung Ngãi ngày 21/4/1947 trong nim tiếc thương vô hn ca đồng bào, cán b, chiến sĩ c nước. Theo tâm nguyện của cụ, nhân dân đã an táng cụ trên đỉnh núi Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi – "Thiên Ấn niên hà" (Ấn trời đóng xuống sông).

Ngày 29/4/1947, Chính ph t chc L truy điu cụ Hunh Thúc Kháng theo nghi thc Quc tang. Trong khi tiến hành l Quc tang c Hunh Thúc Kháng - Quyn Ch tch nước Vit Nam Dân ch cng hòa, Ban t chc l tang đã trang trng uy nghiêm đọc bc thư ca Ch tch H Chí Minh gi vào: C Hunh là người hc hành rt rng, chí khí rt bn, đạo đức rt cao. Vì lòng yêu nước mà C trước đây b bn thc dân làm ti, đày ra Côn Đảo. Mười my năm trường gian nan cc kh, nhưng lòng son d st, yêu nước thương nòi ca C chng nhng không sn, mà li thêm cương quyết. C Hunh là người giàu sang không làm siêu lòng, nghèo khó không làm nn chí, oai vũ không làm sn gan. C đời c Hunh không cn danh v, không cn li lc, không thèm làm giàu. C đời C Hunh ch phn đầu cho dân được t do, nước được độc lp, đến ngày nước Vit Nam Dân ch cng hòa được thành lp Chính ph ta mi C ra. Tuy đã 71 tui, nhưng C vn hăng hái nhn li, C nói: Trong lúc phc hưng dân tc, xây dng nước nhà thì bt k già, tr, trai, gái, ai cũng ra sc phng s T Quc. C Hunh t thế, nhưng cái chí vì nước, vì nhà ca C vn luôn sng mnh m trong lòng hai mươi triu đồng bào chúng ta”.

Tri ân và ghi nhận công lao, đóng góp to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng, ngày 27/12/2012, Chủ tịch nước đã truy tặng Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý nhất của Đảng, Nhà nước cho cụ Huỳnh.